Sự bất thường trong men gan có thể gây nên những bệnh lý gì ?

Nhập từ khóa tìm kiếm

Sự bất thường trong men gan có thể gây nên những bệnh lý gì ?

Sự bất thường trong men gan có thể gây nên những bệnh lý gì ?

Sự bất thường trong men gan có thể gây nên những bệnh lý gì ?

Khi có sự thay đổi trong men gan, các bạn cần vô cùng chú ý bởi đó là duyên cớ của nhiều bệnh lý nghiêm trọng :

Viêm gan virut cấp:

Viêm gan do virut là 1 bệnh lây truyền khá thông thường , đôi lúc để lại thành tựu nặng trong đó có ung bứu gan.

GOT, GPT huyết tương đẩy mạnh , GPT tăng sớm trước khi có vàng da, mức tăng có thể tới 2000- 3000 U/l, nhưng chừng độ tăng của GPT tốt hơn so sánh GOT, tăng sớm trước khi có vàng da, ở tuần đầu vàng da (tăng kéo dài trong viêm gan mạn phát triển ).

Hoạt độ GOT, GPT tăng hơn 10 lần, điều đó cho biết tế bào nhu mô gan bị tàn phá mạnh. GOT tăng >10 lần đơn giản cho biết tế bào nhu mô gan bị thương tổn cấp tính. Nếu tăng ít hơn thì có thể xảy ra với các dạng chấn thương gan khác.

GOT, GPT tăng cao nhất ở 2 tuần đầu rồi giảm dần sau 7- 8 tuần.

GOT, GPT giảm nhanh trong vài ngày sau khi vàng da sinh ra và trở về đơn giản khoảng 2 – 5 tuần Sau đó . Trong viêm gan liên kết với nhiễm khuẩn (bạch huyết cầu tăng), GOT và GPT tăng cao thường < 200 U/l, đạt cực đại sau 2 – 3 tuần từ lúc bệnh phát khởi và trở về đơn giản ở tuần thứ 5.

GGT cũng tăng cao, đôi lúc mức tăng tốt hơn cả GPT. Điều đó nói lên GGT có ý nghĩa chẩn đoán sớm trong bệnh gan, mật.

Trong viêm gan virut cấp, hoạt độ GPT > GOT > LDH.

ALP và GGT tăng ít, chúng đề đạt tình hình ứ mật nhẹ ở gan.

CHE giảm từ  tuần thứ  2 đến tuần thứ 4.

Bilirubin tăng: ở thời đoạn vàng da cấp, bilirubin trực tiếp tăng, chiếm 50 –
70% (đơn giản 25 – 30%), Sau đó bilirubin gián tiếp tăng một cách tương
xứng.

Sắt huyết tương tăng.

Viêm gan do nhiễm độc:

GOT, GPT đều tăng nhưng cốt yếu tăng GPT, có thể tăng gấp 100 lần vo với đơn giản . Đặc biệt tăng rất cao trong nhiễm độc rượu cấp có mê sảng, nhiễm độc tetrachlorua carbon (CCl4), morphin hoặc nhiễm độc chất độc hóa học… Mức độ của LDH tốt hơn các enzym khác: LDH > GOT > GPT.

Tỷ lệ GOT/GPT > 1, với GOT tăng khoảng 7 – 8 lần so sánh đơn giản , thường gặp ở người bị bệnh gan và viêm gan do rượu.

Viêm gan mạn, xơ gan do rượu và các duyên cớ khác:

GOT tăng từ 2- 5 lần, GPT tăng ít hơn, chừng độ tăng GOT nhiều hơn so sánh GPT.

Tắc mật cấp do sỏi gây thương tổn gan:

GOT, GPT có thể tăng tới 10 lần, nếu sỏi không gây thương tổn gan thì GOT, GPT không tăng.

Vàng da tắc mật thì GOT, GPT tăng nhẹ, chừng độ tăng không đáng kể liên kết với alkaline phosphatase tăng hơn 3 lần so sánh đơn giản . GOT, GPT tăng chậm đều đến rất cao (có thể hơn 2000 U/l), Sau đó giảm đột ngột trong vòng 12 – 72h thì được coi như là 1 tắc nghẽn đường dẫn mật cấp tính.

GOT còn tăng trong nhồi máu cơ tim cấp và trong các bệnh về cơ, nhưng GPT đơn giản .

GPT đặc hiệu hơn trong các bệnh gan.

GOT tăng rất cao , có thể tới 1000 U/l, sau giảm dần đến 50% trong vòng 3 ngày, giảm xuống dưới 100 U/l trong vòng 1 tuần gợi ý sốc gan với hoại đàng hoàng bào nhu mô gan. Ví dụ: xơ gan, loạn nhịp, nhiễm khuẩn huyết.

Bên cạnh đó GOT, GPT tăng nhẹ còn gặp trong một số trường hợp có chữa trị như dùng thuốc tránh thai, thuốc chống đông máu.

Bệnh lý gặp khi tăng bilirubin:

Xét nghiệm bilirubin toàn phần , bilirubin trực tiếp có ý nghĩa chẩn đoán phân biệt một số bệnh vàng da. Bilirubin toàn phần tăng hơn 2 lần so sánh đơn giản (> 42,75 µmol/l) gây nên vàng da trên lâm sàng.

Vàng da do tắc mật:

Alkaline phosphatase huyết tương là tiêu chuẩn tốt nhất để biểu thị tắc mật. Nếu nó tăng hơn 5 lần đơn giản thì hướng tới tắc nghẽn đường dẫn mật.

Bilirubin trực tiếp tăng rất cao trong máu, bilirubin toàn phần  cũng tăng, có bilirubin niệu.

Vàng da do tắc mật gặp trong tắc đường dẫn mật do sỏi, u đầu tụy, giun chui ống mật. Trong tắc đường mật ngoài gan, bilirubin có thể tăng dần đến tới mức 513 – 684µmol/l (30 – 40 mg/dl).

Tăng bilirubin huyết thanh và alkaline phosphatase (ALP) có thể gặp trong tan máu. Ngược lại, bilirubin huyết tương đơn giản nhưng tăng ALP gợi ý tắc nghẽn đường mật trong gan, hay bệnh chuyển hóa hoặc bệnh gan xâm nhiễm . Rối loạn chuyển hóa của gan gây tăng ALP huyết tương 1,5- 3 lần so sánh đơn giản .

Vàng da do tan máu (hủy huyết):

Trong tan máu, bilirubin toàn phần  huyết tương hiếm khi tăng hơn 5 lần so sánh đơn giản , trừ khi có liên kết với bệnh lý của gan.

Trong lâm sàng có thể sử dụng tỷ lệ bilirubin trực tiếp/bilirubin toàn phần để chẩn đoán phân biệt :

< 20% gặp trong tình hình huyết tán.

20 – 40% bệnh bên trong tế bào gan hơn là tắc nghẽn đường mật ngoài gan.

40 – 60% xảy ra ở cả trong và ngoài tế bào gan.

> 50% tắc nghẽn ở bên ngoài gan hơn là bệnh ở trong tế bào gan.

Bilirubin gián tiếp tăng rất cao trong máu, bilirubin toàn phần  tăng có khi tới 30-40 lần, thậm chí có thể tới 80 lần so sánh đơn giản . Bilirubin niệu âm tính (có urobilinogen niệu).

Vàng da do tan máu gặp trong vàng da hủy huyết ở trẻ lọt lòng (vàng da sinh lý), sốt rét ác tính, rắn độc cắn (mang bành ) do nọc rắn có nồng độ enzym phospholipase A quá cao biến đổi lecithin thành lysolecithin là 1 chất làm giảm độ bền của màng, nhất là màng hồng cầu gây tan máu, gây các rối loạn chuyển hóa, nặng có thể tử trận .

Vàng da do thương tổn gan:

Trong viêm gan virut cấp (viêm gan lây truyền nổi tiếng ) bilirubin tăng sớm và sinh ra ở nước đái trước khi có  vàng da; Có urobilinogen niệu.

Do gan thương tổn làm giảm chuyển hóa bilirubin thành bilirubin LH (TT) nên bilirubin toàn phần  tăng cao trong máu nhưng bilirubin trực tiếp giảm.

Trong suy gan, xơ gan nặng bilirubin LH giảm do tác dụng gan giảm, làm giảm thời kỳ liên hiệp bilirubin với acid glucuronic tạo bilirubin liên hiệp ở gan.

Trong ung bứu gan bilirubin toàn phần  huyết thanh tăng rất cao có thể từ 10 đến 20 lần so sánh đơn giản (171- 342 àmol/l).

 NH3 máu tăng cao gặp trong một số bệnh gan như:

Suy gan.

Xơ gan nặng.

Hôn mê gan.

Xét nghiệm NH3 máu động mạch đúng đắn hơn máu tĩnh mạch, vì nó đề đạt đúng nồng độ NH3 trong máu đưa tới các công ty , mô gây nhiễm độc, không giống nhau gây nhiễm độc hệ thống thần kinh (não).

Các xét nghiệm thường làm về enzym để biểu thị tác dụng gan

GPT (Glutamat pyruvat transaminase)

Nhận định tình hình thương tổn tế bào nhu mô gan.

CHE thay đổi trong một số bệnh như:

CHE tăng cao trong một số bệnh thần kinh (như trầm uất, thần kinh phân
liệt).

Giảm mạnh trong ngộ độc cấp và mạn các chất độc thần kinh như Tabun, Sarin, Soman (chất độc hóa học quân sự )…

Nếu hoạt độ của 3 enzym GPT, GGT và CHE  đơn giản thì có thể khẳng định   trên 98% không bị bệnh gan.

Nếu có một loại enzym trong 3 enzym trên không đơn giản thì là m thêm 3 xét nghiệm enzym sau: GOT, GLDH, ALP.

GOT

Nhận định chừng độ thương tổn ở ty thể tế bào nhu mô gan. Tăng cao trong viêm gan mạn phát triển , nhiễm độc hóa chất.

GLDH (Glutamat dehydrogenase)

Nó là enzym thay đổi tư thế mạnh, xúc tác giận dữ khử amin-oxy hóa trực tiếp của acid glutamic tạo NH3 và  α-cetoglutarat.

GLDH khu trú ở ty thể của tế bào nhu mô gan.

Kết quả về hoạt độ GLDH biểu thị chừng độ thương tổn nặng, tàn phá lớn tế bào nhu mô gan.

ALP (Alkaline phosphatase)

Nhận định chừng độ ứ mật ở gan. Trong ứ mật, ALP tăng tốt hơn so sánh đơn giản .

Bình thường:

Hoạt độ ALP < 280 U/l (37OC).

Bên cạnh đó còn làm một số xét nghiệm khác

Bilirubin toàn phần , trực tiếp  huyết tương.

10 mục tiêu nước đái .

Định lượng amoniac, fibrinogen.

Định lượng HBsAg , anti HBV, anti HCV…

Điện di protein huyết tương, thành tựu thay đổi như sau:

Albumin giảm.

α1, α2- globulin tăng trong thời đoạn đầu, sau giảm dần. . β-globulin tăng kéo dài.

γ-globulin tăng liên tục .

Sau 1 – 2 tuần chữa trị , GOT và GPT trở về đơn giản , GGT trở về đơn giản chậm nhất, nhưng khi GGT trở về đơn giản sẽ cho biết tế bào nhu mô gan đã định hình – điều đó có gợi ý là xét nghiệm GGT còn có ý nghĩa tiên lượng , chữa trị bệnh viêm gan virut.

Sau thời đoạn vàng da của bệnh viêm gan virut cấp, nếu chữa trị tốt thì sẽ chuyển sang thời đoạn lui bệnh. Đây là thời đoạn mở đầu cho sự hồi phục . Các biểu thị của thời đoạn này là:

Tăng bài niệu.

Bilirubin niệu giảm dần và biến mất khi mà bilirubin huyết tương vẫn còn cao so sánh đơn giản .

Urobilinogen nước đái tăng.

Bilirubin huyết tương tăng.

Nếu theo dõi và chữa trị rất tồi tệ , viêm gan virut cấp dễ chuyển sang viêm gan mạn.

Viêm gan do rượu:

Tăng GGT liên kết với MCV (không gian làng nhàng hồng cầu ) > 100 hoặc tăng độc thân có trị giá chẩn đoán viêm gan do rượu.

GOT tăng (<300U/l), nhưng GPT đơn giản hoặc tăng nhẹ. Xét nghiệm GOT, GPT có độ đặc hiệu tốt hơn nhưng độ nhạy thấp hơn so sánh GGT. Tỷ số GOT/GPT >1 liên kết với GOT tăng (<300U/l) cho biết có khoảng 90% người bệnh bị bệnh gan do rượu. Điều này phân biệt với viêm gan virut có sự tăng đồng đều GOT và GPT.

Trong viêm gan do rượu cấp, GGT thường tăng cao nhanh, mức tăng GGT > GOT. GGT thay đổi bất thường trong viêm gan do rượu, thậm chí cả ở người có tiền sử bệnh gan đơn giản .

Alkaline phosphatase, bilirubin huyết tương có thể đơn giản hoặc tăng nhẹ nhưng không có trị giá chẩn đoán . Tuy nhiên, nếu bilirubin tiếp tục tăng trong suốt 1 tuần chữa trị thì cần chú ý lại chẩn đoán .

Viêm gan mạn

Trong viêm gan mạn có 5 – 10% duyên cớ là do có viêm gan virut B cấp. Nhìn chung viêm gan virut B cấp có thể chia làm 3 thời đoạn :

Giai đoạn viêm gan cấp:

Thường kéo dài 1 – 6 tháng với các hiện tượng :

GOT, GPT tăng hơn 10 lần so sánh đơn giản .

Bilirubin đơn giản hoặc tăng nhẹ. + Giai đoạn viêm gan mạn:

Enzym gan tăng hơn 50% kéo dài cho đến trên 6 tháng, có thể đến 1 năm hoặc nhiều hơn. Đa số các trường hợp bệnh được chữa trị rất tồi tệ sẽ dẫn đến xơ gan và suy gan.

Hoạt độ GOT, GPT tăng 2-10 lần so sánh mức đơn giản .

Giai đoạn hồi phục :

Bệnh nhân định hình , khoẻ mạnh và hết các hiện tượng .

GOT, GPT huyết tương giảm về đơn giản hoặc giảm đến giới hạn thấp.

Viêm gan mạn định hình :

Các enzym thường được định lượng để theo dõi viêm gan mạn là GOT, GPT, GGT và CHE. Các xét nghiệm về enzym cho biết sự tình tiết , chừng độ thương tổn tế bao nhu mô gan.

GOT, GPT và GGT tăng vừa phải (vì nhu mô gan thương tổn nhẹ).

ALP, GLDH, CHE ở trị giá đơn giản .

Bilirubin toàn phần  tăng nhẹ, có thể to hơn 17,1 àmol/l.

Nếu không uống rượu, bia và chế độ làm việc nhẹ nhàng thì bệnh có tiên lượng tốt.

Viêm gan mạn phát triển (thay đổi tư thế ):

GOT và GPT tăng nhẹ; GGT và GLDH đẩy mạnh đề đạt sự thương tổn nặng tế bào nhu mô gan.

CHE và các enzym đông máu giảm.

Bilirubin máu tăng.

Nếu chữa trị rất tồi tệ , viêm gan mạn phát triển dễ chuyển thành xơ gan; tiên lượng bệnh xấu hơn.

Xơ gan

Bilirubin thường tăng, có thể tăng dài trong nhiều năm, cốt yếu là tăng bilirubin chủ quyền (trừ trường hợp xơ gan do tắc mật thì tăng bilirubin liên hiệp ). Sự nao núng tăng, nhiều hay ít của bilirubin đề đạt tình hình tác dụng của gan. Nồng độ bilirubin tăng tốt hơn gặp ở xơ gan sau hoại tử.

Hoạt độ GOT tăng cao (≤ 300 u/l) ở 65- 75% số người bệnh xơ gan. GPT tăng, mức tăng thấp hơn (< 200 u/l) trong 50% số người bệnh . Mức độ thay đổi GOT và GPT đề đạt sự tàn phá tế bào nhu mô gan.

ALP tăng ở 40- 50% số người bệnh .

Protein huyết tương đơn giản hoặc giảm nhẹ . Albumin huyết tương có thể đơn giản khi có sự tàn phá nhẹ tế bào gan. Sự giảm albumin huyết tương đề đạt sự phát triển của cổ trướng hay xuất huyết.

Cholesterol toàn phần  huyết tương đơn giản hoặc giảm nhẹ . Giảm cholesterol este đề đạt tình hình giảm tác dụng gan do tế bào nhu mô gan bị tàn phá nhiều hơn.

Bilirubin niệu tăng, urobilinogen đơn giản hoặc tăng.

Acid uric huyết tương thường tăng.

Cân bằng điện giải và cân ằng acid-base đề đạt sự rối loạn liên kết không giống nhau vào một thời khắc như suy dinh dưỡng, mất nước, xuất huyết, nhiễm toan chuyển hóa, nhiễm toan hô hấp.

Xơ gan do rượu:

GOT, GPT tăng có thể tới 4 – 5 lần đơn giản , chừng độ tăng GOT > GPT.

GGT tăng cao.

GLDH tăng nhẹ.

ALP, bilirubin có thể đơn giản .

CHE giảm.

Trong các xét nghiệm trên, chú ý xét nghiệm GGT, GLDH vì chúng   đề đạt chừng độ nhiễm độc rượu và chừng độ thương tổn tế bào gan.

Xơ gan sau viêm gan:

Tiên lượng bệnh nặng hơn so sánh xơ gan do rượu. Các xét nghiệm sinh hóa thường thấy thành tựu sau:

GOT và GPT tăng, mức tăng GPT > GOT.

GGT tăng, mức tăng ít hơn so sánh xơ gan do rượu. + ALP tăng.

CHE giảm.

Rất có thể có vàng da do bilirubin máu tăng.

GLDH đẩy mạnh đề đạt sự tàn phá mạnh tế bào nhu mô gan.

Nghiệm pháp galactose niệu: dương tính.

Bilirubin có thể giảm trong một số trường hợp viêm gan hay xơ gan.

Đối với xơ gan sau viêm gan cần phải đánh giá và theo dõi 6 tháng/1 lần các enzym ALP, GLDH, LDH, GGT. Nếu bệnh phát triển xấu thì 3 – 4 tháng cần đánh giá 1 lần.

Xơ gan mật:

Xơ gan mật có 2 loại: xơ gan mật nguyên phát và xơ gan mật thứ phát.

Xơ gan mật nguyên phát:

Các hiện tượng lâm sàng của ứ mật nổi tiếng trong khoảng thời hạn dài (có thể kéo dài vài năm) liên kết với tăng kháng thể IgM. Người ta dựa dẫm kháng thể (của IgM) để phân biệt xơ gan mật nguyên phát và xơ gan thứ phát.

Bilirubin đơn giản ở thời đoạn sớm của ứ mật nhưng tăng ở 60% người bệnh trong quá trình của bệnh và là 1 tín hiệu cho chẩn đoán chắc chắn .

Bilirubin trực tiếp tăng: 80% người bệnh có mức tăng tốt hơn 85,5 àmol/l (5mg/dl) và 20% người bệnh có tăng tốt hơn 171 àmol/l (>10 mg/dl).

Bilirubin gián tiếp đơn giản hoặc tăng nhẹ.

ALP huyết tương tăng rõ rệt ở 50% trường hợp , mức tăng > 5 lần so sánh đơn giản .

ALP, GGT tăng rất mạnh đề đạt tình hình ứ mật ở gan.

GLDH, GOT, GPT tăng cao.

5’-nucleotidase, GGT tăng đồng thời với ALP. (5’-nucleotidase đơn giản : 2-15 U/l); bên cạnh đó còn tăng trong tắc đường dẫn mật trong và ngoài gan, tăng trong viêm gan, cốt yếu là tăng trong trường hợp có ứ mật trong gan.

CHE giảm ở thời đoạn muộn của bệnh.

Cholesterol tăng rõ rệt.

Xơ gan mật thứ  phát:

Xơ gan mật thứ phát có liên kết với viêm đường mật và ứ mật, các xét nghiệm sinh hóa thường có thành tựu như sau:

GOT, GPT, GLDH tăng cao so sánh đơn giản .

ALP, GGT tăng cao.

CHE giảm ít và có thể đơn giản .

Hội chứng tắc mật

Bilirubin trực tiếp tăng cao, bilirubin toàn phần  máu tăng.

Phosphatase kiềm tăng.

Cholesterol toàn phần  tăng.

Bilirubin niệu dương tính, urobilinogen giảm, stercobilinogen giảm.

Tài liệu tìm hiểu thêm :

1. Sách Bệnh học, NXB Đại học Y TP. Hà Nội , sách huấn luyện Dược sĩ

2. Các xét nghiệm thường quy ứng dụng trong thực hiện lâm sàng

3. Các bài báo y khoa .

Copy ghi nguồn : duochungthanh.vn

Link bài viết : Sự bất thường trong men gan có thể gây nên những bệnh lý gì ?

Item :326

Viêm gan virut cấp: GOT, GPT đều tăng rất cao so với bình thường (có thể > 1000U/l), nhưng mức độ tăng của GPT cao hơn so với GOT, tăng sớm trước khi có vàng da, ở tuần đầu vàng da (tăng kéo dài trong viêm gan mạn tiến triển).Viêm gan do nhiễm độc:GOT, GPT đều tăng nhưng chủ yếu tăng GPT..

Giá sản phẩm: Liên hệ(Giá sỉ lẻ rẻ nhất Việt Nam)

Tới trang đặt hàng

Đặt hàng tại: Đặt mua thuốc trực tuyến
Trang chủ nhà thuốc: Nhà thuốc Online
Hotline: 0981 199 836

Lưu ý: Tin tức copy tại nhiều nguần khác nhau, nếu không ghi rõ nguần, mong chủ bài viết thông cảm và phản hồi lại giúp nếu tin tức có bản quyền và cần thâm nguần trích dẫn. muathuoconline.net cảm ơn các bạn

Sự bất thường trong men gan có thể gây nên những bệnh lý gì ?
Đánh giá bài viết

itseovn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chát với chúng tôi